Giáo sư gốc Canada nằm trong số 3 người đoạt giải Nobel kinh tế 2021

Hôm thứ Hai 11/10/2021, Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển công bố giải Nobel Kinh tế học 2021 được trao cho các nhà kinh tế học David Card vì thành tựu nghiên cứu thực nghiệm về kinh tế học lao động, và Joshua Angrist và Guido Imbens vì những đóng góp về phương pháp luận nghiên cứu quan hệ nhân quả.

Nhà kinh tế học David Card, sinh năm 1956 tại Canada, giáo sư tại Đại học California, Berkeley đã được trao một nửa giải Nobel năm 2021 về các nghiên cứu tiên phong chứng minh rằng việc tăng lương tối thiểu không làm giảm việc làm, và người nhập cư không dẫn tới lương thấp hơn cho người lao động bản xứ – ngược với những quan niệm phổ biến. 

Hai nhà kinh tế học Joshua Angrist, sinh năm 1960, giáo sư tại Viện Công nghệ Massachusetts (MIT), và Guido Imbens, sinh năm 1963 ở Hà Lan, giáo sư tại Đại học Stanford nhận một nửa giải Nobel còn lại về phương pháp nghiên cứu các vấn đề không thể dựa vào các phương pháp khoa học truyền thống.

Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển cho biết cả ba nhà kinh tế học này đã “tái định hình hoàn toàn nghiên cứu thực nghiệm trong khoa học kinh tế”.

Trong một công trình được công bố vào năm 1994, Card nghiên cứu tác động đối với việc làm tại Burger King, KFC, Wendy’s và Roy Rogers khi tiểu bang New Jersey tăng mức lương tối thiểu từ 4.25 USD lên 5.05 USD, sử dụng các tiệm thức ăn nhanh ở tiểu bang Pennsylvania giáp ranh phía đông làm nhóm kiểm soát – tức so sánh. Trái ngược với các nghiên cứu trước đó, ông và đồng tác giả nghiên cứu Alan Krueger (qua đời vào năm 2019) phát hiện rằng việc tăng lương tối thiểu không ảnh hưởng tới số lượng nhân viên.

Nghiên cứu về lương tối thiểu của Card đã làm thay đổi cơ bản quan điểm của các nhà kinh tế học về các chính sách như vậy. Theo ghi nhận của tạp chí The Economist, vào năm 1992, một cuộc khảo sát với các hội viên của Hiệp hội Kinh tế Mỹ (American Economic Association, AEA) cho thấy 79% đồng ý rằng luật lương tối thiểu làm tăng tỷ lệ thất nghiệp ở người lao động trẻ hơn và có kỹ năng thấp. Những quan điểm đó chủ yếu dựa trên quan điểm kinh tế truyền thống về cung và cầu: Nếu giá tăng thì lượng giảm.

Tuy nhiên, tới năm 2000, chỉ có 46% hội viên AEA cho rằng luật lương tối thiểu làm tăng tỷ lệ thất nghiệp, chủ yếu là nhờ nghiên cứu của Card và Krueger. Phát hiện của họ đã làm thu hút thêm nhiều người quan tâm nghiên cứu sâu hơn về lý do tại sao mức lương tối thiểu cao hơn sẽ không làm giảm việc làm. 

Một kết luận là các công ty có thể chuyển chi phí tiền lương cao hơn sang người tiêu dùng bằng cách tăng giá. Trong các trường hợp khác, nếu một công ty là chủ sử dụng lao động chính yếu tại một vùng cụ thể, thì công ty đó có thể giữ lương ở mức rất thấp để có thể đủ khả năng trả mức lương tối thiểu cao hơn mà không phải cắt giảm việc làm. Mức lương cao hơn cũng sẽ thu hút nhiều người xin việc làm hơn, làm tăng cung lao động.

Card cũng phát hiện rằng thu nhập của những người lao động bản xứ có thể được hưởng lợi từ những người nhập cư mới, trong khi những di dân nhập cư sớm hơn có nguy cơ chịu ảnh hưởng tiêu cực. Để nghiên cứu tác động của nhập cư đối với việc làm, Card đã so sánh thị trường lao động ở Miami sau quyết định đột ngột của Cuba cho người dân di cư vào năm 1980, khiến 125 ngàn người rời Cuba sang Mỹ trong đợt di cư ồ ạt được sử sách gọi là Mariel Boatlift (do người di cư bằng tàu rời cảng Mariel ở phía tây Havana). 

Kết quả là lực lượng lao động của thành phố Miami tăng 7%. Bằng cách so sánh diễn tiến của tiền lương và việc làm ở bốn thành phố khác, Card phát hiện rằng không có tác động tiêu cực nào đối với cư dân Miami có trình độ học vấn thấp. Những nghiên cứu sau đó cho thấy lượng di dân gia tăng có thể có tác động tích cực tới thu nhập của người bản xứ.

Angrist và Imbens đã giành được một nửa giải thưởng Nobel vì đã xử lý được các vấn đề phương pháp luận giúp các nhà kinh tế học rút ra những kết luận vững chắc về quan hệ nhân quả ngay cả khi họ không thể thực hiện các nghiên cứu theo các phương pháp khoa học thuần túy.

Nghiên cứu của Card về mức lương tối thiểu là một ví dụ về “thí nghiệm tự nhiên” (“natural experiment”), tức là nghiên cứu dựa trên quan sát dữ liệu trong đời thực. Nhưng những thí nghiệm như vậy có trở ngại là đôi khi rất khó cô lập nguyên nhân và kết quả. Ví dụ, nếu ta muốn tìm hiểu xem liệu có thêm một năm đi học có làm tăng thu nhập của một người hay không, ta có thể chỉ cần so sánh thu nhập của những người thành niên có thêm một năm đi học với những người không có.

Tuy nhiên, có nhiều yếu tố khác có thể xác định liệu những người có thêm một năm đi học có thể kiếm được nhiều tiền hơn hay không. Có thể họ là những người lao động chăm chỉ hơn hoặc siêng năng hơn và sẽ kiếm được nhiều tiền hơn những người không có thêm một năm học kể cả khi họ không tiếp tục học. Những kiểu khó khăn này khiến các nhà kinh tế học và các nhà nghiên cứu khoa học xã hội khác phải nói rằng “mối tương quan không chứng minh được quan hệ nhân quả”.

Tuy nhiên, Imbens và Angrist đã xây dựng các phương pháp thống kê để vượt qua những thách thức này và xác định chính xác hơn các nhận định thực sự về nguyên nhân và tác động của các thí nghiệm tự nhiên.

“Tôi hoàn toàn choáng váng khi nhận được cuộc điện thoại,” Imbens phát biểu từ nhà ở Massachusetts. “Rồi tôi thực sự vui mừng khi biết tin … rằng tôi được chia sẻ giải này với Josh Angrist và David Card.” Ông nói “cả hai đều là bạn rất thân của tôi”. Imbens cho biết Angrist là phù rể trong đám cưới của ông.

Krueger, người đã nghiên cứu chung với Card trong một số công trình giúp đoạt giải Nobel, đã qua đời năm 2019 ở tuổi 58. Ông đã giảng dạy tại Princeton trong ba thập niên và là nhà kinh tế trưởng của Bộ Lao động dưới thời Tổng thống Bill Clinton. Ông từng phụng sự trong Bộ Tài chính dưới thời Tổng thống Barack Obama, và sau đó là Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Kinh tế của Obama. Giải thưởng Nobel không được trao cho người đã qua đời.

Năm 2020, hai nhà kinh tế học người Mỹ Paul. R. Milgrom và Robert B.Winson đã giành giải Nobel Kinh tế nhờ công trình nghiên cứu lý thuyết đấu giá và những sáng tạo về các hình thức đấu giá mới.

Nobel cho lĩnh vực kinh tế không thuộc cơ cấu giải thưởng ban đầu trong di chúc của nhà khoa học Thụy Điển – Alfred Nobel. Giải này được bổ sung năm 1968, nhân kỷ niệm 300 năm thành lập Ngân hàng Trung ương Thụy Điển – Sveriges Riksbank, cũng là đơn vị đóng góp quỹ cho giải thưởng này.

Dù vậy, quy trình đề cử, chọn lọc và trao giải Nobel Kinh tế vẫn tương tự các lĩnh vực khác. Nhà khoa học giành Nobel Kinh tế năm nay sẽ được trao 10 triệu kronor Thụy Điển (khoảng 1.14 triệu USD). Từ năm 1969 tới năm 2020, đã có 52 Giải Nobel Kinh tế được trao, trong đó có hai phụ nữ đoạt giải là nhà kinh tế học Elinor Ostrom năm 2009 và Esther Duflo năm 2019.

Nguồn: The Associated Press, Reuters.

© Bản tiếng Việt của Canada Info.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Website này sử dụng Akismet để hạn chế spam. Tìm hiểu bình luận của bạn được duyệt như thế nào.

Exit mobile version