Tái đàm phán NAFTA: các nước muốn gì, tương lai ra sao?

Bài đặc sắc, Kinh tế

Phạm Vũ Lửa Hạ

Sau một phần tư thế kỷ giao thương bằng Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA), ba nền kinh tế Mỹ, Canada và Mexico đan quyện chặt chẽ với nhau bằng những mạng lưới cung ứng xuyên biên giới. Trong hơn 2 thập niên, NAFTA là nguồn quan trọng tạo ra tăng trưởng kinh tế cho ba nước tham gia. Phần lớn các nhà kinh tế xem hiệp định thương mại tự do này có lợi ích ròng cho cả ba nước.

Vì sao phải thay đổi NAFTA?

Thế nhưng, từ lúc tranh cử và trong suốt năm đầu nhiệm kỳ tổng thống, Donald Trump nhiều lần chê NAFTA là đại họa, là hiệp định thương mại tệ hại nhất trong lịch sử thế giới. Khi nhậm chức tổng thống vào tháng 1/2017, Donald Trump “ký hợp đồng” với dân Mỹ thỏa thuận rằng trong 100 ngày đầu tiên ông sẽ quyết định tái đàm phán NAFTA hoặc rút khỏi nó. Tới giữa năm 2017, chính quyền Mỹ đã quyết định tái đàm phán với Canada và Mexico.

Ra đời năm 1994, NAFTA là phiên bản mở rộng của Hiệp định Thương mại Tự do Canada-Mỹ (CUSFTA) năm 1988, và tạo nên khối thương mại lớn nhất thế giới lúc đó. NAFTA gỡ bỏ các rào cản đối với việc lưu thông hàng hóa và lao động giữa Canada, Mỹ, và Mexico, dưới sự giám sát của một quy trình giải quyết tranh chấp độc lập.

Bối cảnh chính trị của thương mại tự do đã đảo chiều so với khi NAFTA hình thành.

Năm 1988, Canada có thủ tướng Brian Mulroney thuộc đảng Bảo thủ Tiến bộ tranh cử với cương lĩnh ủng hộ hiệp định thương mại Canada-Mỹ, trong khi đảng Tự do phản đối. Ông cũng có các đồng minh Cộng hòa tại Tòa Bạch ốc ủng hộ thương mại tự do, với Ronald Reagan và sau đó George H.W. Bush hậu thuẫn ông.

Ngược lại, năm 2016, chủ nghĩa bảo hộ trở thành chủ đề đặc trưng của cuộc bầu cử ở Mỹ. Cả hai ứng cử viên tổng thống đều phản đối hiệp định Hợp tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), một hiệp định thậm chí còn lớn hơn cả NAFTA, nhưng ứng cử viên Cộng hòa Donald Trump còn chỉ trích đích danh NAFTA và hứa dựng tường dọc biên giới Mỹ-Mexico. Trong bài diễn văn nhậm chức, tổng thống Trump hứa áp dụng khẩu hiệu “Nước Mỹ trên hết” đối với thương mại, nhập cư và đối ngoại.

Mỹ muốn gì ở NAFTA mới?

Trong những tháng đầu, giới thân cận của tổng thống Trump bất đồng sâu sắc về những yêu sách nên đưa ra khi tái đàm phán NAFTA. Phe ôn hòa, trong đó có bộ trưởng tài chính Steve Mnuchin và con rể Jared Kushner, muốn cải thiện NAFTA và khiến giao thương xuyên biên giới dễ dàng hơn cho doanh nghiệp, còn phe bảo hộ, trong đó có cựu nhà chiến lược trưởng Steven Bannon, muốn siết chặt.

Bộ trưởng kinh tế Mexico Ildefonso Guajardo Villarreal, trái, Ngoại trưởng Canada Chrystia Freeland, giữa, và đại sứ Robert E. Lighthizer, Đại diện Thương mại Mỹ, trong ngày cuối cùng của vòng tái đàm phán NAFTA thứ ba ở Ottawa ngày 27/9/2017. (Ảnh: Sean Kilpatrick / The Canadian Press)

Từ cuộc đối thoại đó đã hình thành danh sách ban đầu gồm 100 yêu sách tổng quát, lời lẽ mơ hồ được Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ công bố hôm 17/7/2017. Một số yêu sách nổi bật gồm:

  • Giảm thâm hụt thương mại của Mỹ bên trong NAFTA, nghĩa là tăng xuất khẩu của Mỹ hoặc giảm nhập khẩu từ Canada và Mexico.
  • Bỏ các ban giải quyết tranh chấp của NAFTA; những ban này đôi khi phán quyết có lợi cho Canada về gỗ mềm và các vấn đề thương mại khác.
  • Tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các công ty viễn thông và ngân hàng Mỹ hoạt động ở hai nước NAFTA kia.
  • Cho các công ty Mỹ được tham gia nhiều hơn vào đấu thầu hợp đồng nhà nước ở Canada hoặc Mexico.
  • Dùng các điều khoản “Mua hàng Mỹ” để cấm cản công ty Canada hoặc Mexico đấu thầu hợp đồng nhà nước ở Mỹ.
  • Buộc các luật lệ về sở hữu trí tuệ của Canada và Mexico gần giống với luật ở Mỹ.

Những yêu sách NAFTA gây tranh cãi nhiều nhất của chính quyền Trump bắt đầu hình thành tại vòng đàm phán thứ tư ở Arlington, Virginia, bao gồm:

  • Sản xuất xe: Mỹ muốn ít nhất 85% hàm lượng Bắc Mỹ và 50% hàm lượng Mỹ trong những xe được trao đổi miễn thuế giữa các nước NAFTA – nhưng Mỹ muốn các hãng sản xuất Mỹ được miễn quy định này. Hiện tại, xe phải có 62.5% hàm lượng Bắc Mỹ để được miễn thuế, nhưng có thể từ bất cứ nước nào trong 3 nước.
  • Bơ sữa: Mỹ muốn Canada chấm dứt hệ thống quản lý nguồn cung đối với sản phẩm bơ sữa và gia cầm.
  • Điều khoản hoàng hôn: Mỹ muốn NAFTA mới hết hạn trong 5 năm trừ phi các nước thành viên đồng ý gia hạn.
Các vấn đề nhiều tranh chấp của Canada

Ian Lee, phó giáo sư ở Trường Kinh doanh Sprott thuộc Đại học Carleton ở Ottawa, nhận định, “Bất cứ thủ tướng nào của Canada — bất kể thuộc đảng nào — có hai yêu cầu trong bản mô tả nhiệm vụ công việc của mình: không mất Quebec trong nhiệm kỳ của mình và không làm hỏng quan hệ với Mỹ. Nếu làm hỏng một trong hai thứ đó thì mất chức.”

Bởi vậy, cả năm qua, chính phủ Canada đã tích cực cử nhiều bộ trưởng và dân biểu sang Mỹ vận động chính quyền các cấp ở Mỹ ủng hộ tiếp tục giữ NAFTA. Trong khi đó, chính quyền Trump nhất quyết ép Canada về những mảng sau.

Quản lý nguồn cung ngành bơ sữa

Các ngành bơ sữa, trứng và gia cầm của Canada theo hệ thống quản lý nguồn cung có từ những năm 1970. Hệ thống này gồm 3 phần: giá cố định, hạn ngạch sản lượng và thuế nhập khẩu để bảo vệ các hãng sản xuất Canada trước sự cạnh tranh của nước ngoài. Thuế nhập khẩu bơ sữa – lên tới 270%, và được Canada siết chặt năm 2016 để bao gồm các sản phẩm sữa chưa lọc để làm phô mai và sữa chua – lâu nay là cái gai trong mắt của những nước sản xuất bơ sữa khác như Mỹ, Úc và New Zealand.

Donald Trump bắt đầu quan tâm tới ngành bơ sữa do những diễn biến ở Wisconsin, một bang sản xuất bơ sữa lớn. Hãng Grasslands Dairy Products Inc. sở tại viết thư thông báo với nông dân ở Wisconsin rằng hãng sẽ ngừng mua sữa của họ vì các quy định phân loại mới của Canada đối với một nguyên liệu dùng để làm phô mai, quy định này nhằm khuyến khích các công ty mua từ Canada thay vì từ Mỹ. Một chiến dịch viết thư gởi tổng thống Trump – ông thắng suýt soát tại bang này trong cuộc bầu cử năm 2016 – và các nỗ lực tại quốc hội của chủ tịch Hạ viện Paul Ryan, cũng là người Wisconsin, đã biến cuộc tranh chấp này thành một vấn đề quốc gia. Tại một sự kiện ở Kenosha, Wisconsin, ngày 18/4/2017, tổng thống Trump hứa sẽ chống chính sách bơ sữa của Canada.

Trong những tháng tiếp theo, chính phủ của thủ tướng Justin Trudeau lên tiếng mạnh mẽ ủng hộ các ngành bơ sữa và gia cầm của Canada. Và tại vòng tái đàm phán NAFTA thứ tư, chính quyền Trump lật ngửa yêu sách trên bàn: Dần dần xóa bỏ tất cả các thuế nhập khẩu liên quan tới quản lý nguồn cung bơ sữa và gia cầm trong 10 năm. Theo những nguồn tin biết rõ về các cuộc đàm phán nói với nhật báo The Globe and Mail, Canada thẳng thừng bác bỏ yêu sách này.

Gỗ mềm

Tranh chấp về gỗ mềm là một điệp khúc trong quan hệ Canada-Mỹ từ thập niên 1980. Căn nguyên là ngành gỗ Mỹ cho rằng Canada trợ cấp một cách không công bằng cho ngành gỗ Canada bằng đất công hữu thuê giá rẻ. Tranh chấp này dẫn tới chu trình Mỹ có biện pháp trừng phạt, tới Canada thắng phần lớn các vụ kiện thương mại, rồi dàn xếp thỏa hiệp.

Cuộc chiến gỗ mềm thứ năm và gần đây nhất nổ ra vào ngày 24/4/2017, khi Bộ trưởng thương mại Mỹ Wilbur Ross nói Bộ thương mại sẽ đánh thuế mới chống trợ cấp đối với gỗ mềm Canada. Các mức thuế ban đầu lên tới khoảng 20%, nhưng đợt thứ nhì đánh thuế chống phá giá vào cuối tháng 6/2017 nâng mức thuế tổng cộng lên tới khoảng 27%. Ủy ban Thương mại Quốc tế Mỹ giữ nguyên các mức thuế này trong phán quyết cuối cùng nhất trí tuyệt đối vào ngày 7/12/2017, với lập luận rằng gỗ mềm xuất khẩu của Canada gây tác hại cho giới sản xuất Mỹ.

Nội các của thủ tướng Trudeau bàn tính chương trình hỗ trợ cho ngành gỗ mềm hồi tháng 5/2017, nhưng đợi ý kiến đóng góp của các tỉnh bang từ một nhóm công tác đặc biệt trước khi công bố hỗ trợ 867 triệu đô-la vào ngày 1/6/2017. Chính phủ liên bang Canada hỗ trợ ngành gỗ mềm bằng bảo lãnh vay, giúp tìm thị trường mới cho sản phẩm, hỗ trợ bảo hiểm thất nghiệp cho công nhân, và cấp kinh phí cho các sáng kiến mới từ các hãng lâm nghiệp thổ dân.

Hồi tháng 11/2017, chính phủ Canada cũng yêu cầu một ban hai quốc gia dàn xếp giải quyết tranh chấp gỗ mềm, vận dụng Chương 19 của NAFTA.

Chương 11 & Chương 19

Hai trong số những cơ chế giải quyết tranh chấp của NAFTA là các vấn đề lớn trong tái đàm phán.

Chương 11: Doanh nghiệp kiện Chính phủ

Thử hình dung kịch bản trong đó Nước A thông qua một luật mà một công ty ở Nước B nghĩ là sẽ gây hại cho hoạt động kinh doanh của mình. Nếu công ty ở Nước B kiện chính phủ Nước A, vụ kiện sẽ được phân xử bởi một ban đặc biệt gồm các luật gia được các nước NAFTA bổ nhiệm, theo quy trình được quy định trong Chương 11 của NAFTA. Mục đích là các ban này sẽ độc lập hơn nếu vụ kiện được giải quyết bởi tòa án của Nước A. Nhưng giới chỉ trích cho rằng các luật gia được bổ nhiệm vào các ban này có thể bị xung đột quyền lợi do những hoạt động kinh doanh của họ ở nước nhà.

Canada bị nhiều vụ kiện Chương 11 hơn bất cứ nước nào khác – tới nay khoảng 40 – phần lớn kiện các biện pháp bảo vệ môi trường và chính sách tài nguyên thiên nhiên của Canada. Theo một nghiên cứu năm 2015 của Trung tâm Canada về Các phương án Chính sách, Canada là đối tượng của hơn 70% vụ nhà đầu tư kiện chính phủ trong khuôn khổ NAFTA kể từ năm 2005, và tác giả nghiên cứu Scott Sinclair cảnh báo rằng vấn đề này đang trở nên trầm trọng hơn.

Canada nay bị kiện nhiều lần thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và chính phủ hơn bất cứ nước đã phát triển nào khác trên thế giới.

Một trong những mục tiêu của Canada trong tái đàm phán NAFTA là cải tổ Chương 11 để, thay vì các ban đặc biệt bổ nhiệm theo từng trường hợp, sẽ có một danh sách các thẩm phán được các nước NAFTA bổ nhiệm.

Chương 19: Chính phủ kiện Chính phủ

Trong khi Chương 11 quy định cách doanh nghiệp kiện chính phủ, Chương 19 là để giải quyết tranh chấp giữa các chính phủ. Nếu Nước A đánh thuế thương mại đối với Nước B mà chính phủ Nước B cho là không công bằng, Nước B có thể khiếu kiện lên một ban độc lập, thay vì nhờ tòa án Nước A phân xử vì tòa án Nước A có thể thiên vị cho Nước A.

Canada thích cách này vì Canada đã dùng nó để khiếu kiện thành công các loại thuế của Mỹ đánh vào gỗ mềm và các sản phẩm khác. Nhưng chính quyền Trump cho rằng các ban độc lập là sự vi phạm chủ quyền của Mỹ, và muốn tòa án Mỹ giải quyết các tranh chấp thương mại.

Hồi tháng 7/2017, một quan chức cao cấp nói với nhật báo The Globe and Mail rằng các ban độc lập là “lằn ranh đỏ” mà Canada sẽ không vượt qua, và chính phủ của thủ tướng Trudeau sẽ rời khỏi bàn đàm phán NAFTA nếu Mỹ không xuống nước. Thủ tướng Trudeau không khẳng định chi tiết về khả năng có thể bỏ đàm phán, nhưng nói ông xem các ban này là “thiết yếu” cho một hiệp định mới.

Bombardier & Boeing

Trong khi Canada và Mỹ đấu nhau tại bàn đàm phán NAFTA, hai hãng sản xuất máy bay lớn của hai nước đang so găng trong cuộc chiến thương mại của chính họ.

Hãng Mỹ Boeing cáo buộc đối thủ cạnh tranh Bombardier, ở Quebec, được các chính phủ Canada và Vương quốc Anh trợ cấp không công bằng, và nhờ đó bán máy bay dòng C Series với giá thấp. Boeing cầu cứu chính quyền Trump, và hồi tháng 9/2017, Bộ thương mại Mỹ đánh một loạt các loại thuế nhập khẩu cao hơn mức Boeing yêu cầu: gần 300% đối với máy bay C Series nhập vào Mỹ. Các chính phủ Canada và Vương quốc Anh đều lên án quyết định này. Trước và sau quyết định đó, thủ tướng Trudeau nhiều lần dọa sẽ bỏ ý định mua máy bay chiến đấu của Boeing.

Ngày 16/10/2017, Bombardier đã có nước cờ mạnh dạn nhằm cố gắng giải quyết tranh chấp này: Bombardier ký thỏa thuận bán phân ban C Series cho Airbus, hãng kỹ thuật hàng không có nhà máy lắp ráp ở Alabama. Bombardier hy vọng rằng việc lắp ráp máy bay ở Mỹ sẽ tránh được thuế Mỹ.

Các vấn đề quan trọng với Mexico

Dựng lên các rào cản, cả thực tế lẫn kinh tế, với Mexico là mục tiêu được Donald Trump nêu rõ kể từ khi ông bắt đầu tranh cử tổng thống. Trong bài diễn văn năm 2015 tuyên bố ra tranh cử (mà trong đó ông nói “những kẻ hiếp dâm” và bọn tội phạm vào Mỹ qua biên giới Mỹ-Mexico), ông nói người Mexico đang “cười nhạo chúng ta” và “giết chết chúng ta về kinh tế”).

Nay Trump đã thành tổng thống Mỹ, tổng thống Mexico Enrique Pena Nieto lâm vào thế lưỡng nan. Ông chịu áp lực nội địa phải cương quyết phản bác Mỹ về bức tường mà Trump muốn Mexico trả tiền xây. Nhưng tổng thống Pena Nieto cũng phải tránh chọc giận một đối tác thương mại quan trọng và bị loại khỏi hiệp định thương mại Bắc Mỹ mới.

Hôm 18/1, Donald Trump viết trên Twitter: “NAFTA là một trò đùa dở”, và ông lại dọa gắn NAFTA với bức tường ông hứa dựng dọc biên giới Mexico. Bộ Ngoại giao Mexico đáp trả bằng cách nhắc lại lập trường là Mexico sẽ không trả tiền dựng tường biên giới “trong bất kỳ hoàn cảnh nào”, và sẽ không đàm phán NAFTA qua mạng xã hội.

Những vấn đề thương mại hệ trọng đối với Mexico trong tái đàm phán NAFTA bao gồm:

  • Năng lượng: Thị trường năng lượng của Mexico đã trải qua những cải cách thị trường tự do lớn trong những năm gần đây, trở thành một mục tiêu béo bở cho các công ty năng lượng Mỹ và Canada. Washington và Ottawa muốn NAFTA mới khẳng định sự tự do hóa đó.
  • Sản xuất xe: Bóng ma các hãng sản xuất xe Mỹ chuyển nhà máy lắp ráp sang Mexico là một mục tiêu công kích thường xuyên trong các bài diễn văn tranh cử của Trump năm 2016. Những thay đổi đề xuất của chính quyền Trump về “quy tắc xuất xứ” sẽ có tác động lớn tới các hãng sản xuất xe bằng cách định nghĩa lại những sản phẩm có thể được buôn bán miễn phí xuyên biến giới, dựa trên nguồn gốc của phụ tùng.
  • Đường: Với NAFTA, các hãng sản xuất đường Mexico được tiếp cận miễn thuế với thị trường Mỹ, những các hãng Mỹ cáo buộc Mexico trợ cấp ngành đường và gây hại cho doanh nghiệp Mỹ. Hai nước đã đạt được thỏa thuận về vấn đề này hồi tháng 6, tránh được sự leo thang đánh thuế nhập khẩu đối với đường của Mexico và si-rô bắp cao phân tử của Mỹ.
Ngóng chờ kết quả từ Montreal

Tới nay 5 vòng tái đàm phán NAFTA đã được tổ chức luân phiên ở Mỹ, Mexico và Canada, với ý định tiếp tục tiếp tục cho tới khi đạt được giải pháp. Chính quyền Trump ban đầu muốn đạt được thỏa thuận trước cuối năm 2017, nhưng sau vòng thứ tư, Mỹ cho biết họ có thể đợi tới ít nhất cuối tháng 3/2018.

Ba nước NAFTA tiếp tục đàm phán ở vòng thứ sáu, và có thể là cuối cùng, tại Montreal từ ngày 23/1 tới 29/1/2018. Vòng tái đám phán NAFTA ở Montreal có thể báo hiệu sự cáo chung của một thời đại hoàng kim của thương mại tự do giữa Canada, Mexico và Mỹ. Giới am hiểu tình hình cho rằng kết cuộc tại vòng đàm phán Montreal sẽ cho thấy rõ Mỹ muốn xúc tiến ra sao với NAFTA.

Ngoại trưởng Canada Chrystia Freeland nói bà sẽ mang những đề xuất mới “có tính sáng tạo” tới bàn đàm phán để đáp lại sự thiếu linh hoạt của Mỹ. Nhưng nếu phía Mỹ không chịu nhượng bộ, dù chỉ chút ít, số phận của NAFTA coi như được định đoạt.

Gần đây, tổng thống Trump đã nhắc lại những lời đe dọa kết liễu NAFTA nếu cần, dù khi trả lời phỏng vấn của The Wall Street Journal hai tuần trước, ông nói các vòng tái đàm phán đang diễn ra tốt đẹp. Tổng thống Trump cũng đề nghị tiếp tục đàm phán cho tới sau cuộc bầu cử tổng thống ở Mexico vào ngày 1/7/2018, và ngoại trưởng Canada Chrystia Freeland xem đó là một “đề nghị hợp lý”.

Trong khi đó, Canada đang đưa cuộc tranh chấp thương mại với Mỹ lên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đệ khiếu nại dài 32 trang cáo buộc các loại thuế của Mỹ nhằm chống phá giá và chống trợ cấp vi phạm luật lệ thương mại toàn cầu. Khiếu nại này được đưa ra hồi tháng 12/2017 nhưng được công khai hôm 10/1 sau khi Mỹ áp thuế đối kháng mới với sản phẩm in ấn ở Canada.

Đại diện Thương mại Mỹ Robert Lighthizer cho rằng khiếu nại của Canada với WTO là một đòn tấn công dại dột mà có thể khiến Mỹ giảm lòng tin vào cam kết của Canada về thương mại đôi bên cùng có lợi.

Nếu Canada và Mexico không nhượng bộ trước các yêu sách của chính quyền Trump, tổng thống Trump có thể cho Mỹ rút khỏi NAFTA. Điều 2205 của NAFTA cho phép bất cứ nước thành viên nào rút lui sau khi báo trước sáu tháng; quy trình này có thể không dẫn tới việc rời bỏ hiệp định, nhưng giúp Mỹ có phương án rút khỏi.

Nếu NAFTA sụp đổ

Theo cơ quan xúc tiến xuất khẩu Export Development Canada, năm 2016, kim ngạch xuất khẩu Canada sang Mỹ đạt 454 tỷ đô-la, chiếm khoảng 3/4 trong tổng xuất khẩu từ Canada. Mức này tương đương khoảng 20% nền kinh tế của Canada. Trong khi đó, doanh nghiệp Canada hiện đầu tư khoảng 475 triệu đô-la ở Mỹ, và NAFTA hỗ trợ khoảng 3.4 triệu việc làm Canada thông qua thương mại và đầu tư với Mỹ. (Trên lý thuyết, Mexico và Canada sẽ vẫn bị ràng buộc bởi NAFTA, cho dù Mỹ không còn tham gia. Tuy nhiên, xuất khẩu của Canada sang Mexico chỉ ở mức 8.8 tỷ đô-la.)

Theo giới chuyên gia, nếu Mỹ rút khỏi NAFTA, giá mọi thứ từ xe tới thực phẩm dự kiến sẽ tăng lên. Hàng chục ngàn việc làm có nguy cơ mất do các chuỗi cung ứng bị phá vỡ và các biện pháp bảo hộ có tính trả đũa sẽ tác hại tới tăng trưởng ở cả hai nước. Giá cổ phiếu, nhất là của các công ty xuất khẩu phụ thuộc vào thị trường Mỹ, sẽ tụt dốc, và đồng đô-la Canada sẽ sụt giá.

Trong một bài phát biểu hồi tháng 8/2017, ngoại trưởng Canada Chrystia Freeland nói nhờ NAFTA nền kinh tế Canada lớn hơn 2.5% mỗi năm. “Như thể Canada nhận được tấm séc 20 tỷ đô-la mỗi năm kể từ khi NAFTA được phê chuẩn.”

Thử tưởng tượng nếu tấm séc ví von đó bỗng nhiên bị xé bỏ thì sao.

Dễ thấy là những công ty với mức độ tiếp cận nhiều nhất với Mỹ sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất và nhanh nhất. Giáo sư Ian Lee của Đại học Carleton nói, “Các hãng xuất khẩu Canada sẽ thực sự bị bầm dập trên các thị trường vốn. Khi thị trường bất định, ta thà thận trọng hơn sai lầm. Thị trường sẽ làm gì với những công ty này? Họ sẽ chẳng biết doanh thu của họ sẽ giảm bao nhiêu. Tôi không thể tiên đoán một con số, nhưng nó sẽ có những hậu quả rất trầm trọng cho những công ty này.” Do hiệu ứng lan truyền, các ngân hàng cũng sẽ bắt đầu cân nhắc kỹ lưỡng hơn về mức độ cho vay đối với hoạt động kinh doanh tập trung vào xuất khẩu. Ông nói, “Nếu một công ty đang xuất khẩu sang Mỹ, họ sẽ cân nhắc liệu có nên tăng lãi suất hoặc giảm hạn mức tín dụng để giảm rủi ro.”

Cái chết của NAFTA cũng sẽ nhanh chóng gây biến động trên thị trường hối đoái, khiến đô-la Canada sụt giá. Sự sụt giá này sẽ là đệm giảm sốc cho các hãng xuất khẩu, vì sản phẩm của họ sẽ rẻ hơn cho người tiêu dùng ở Mỹ. Nhưng liệu tác động này có đủ để bù đắp cho việc thuế nhập khẩu vào Mỹ tăng lên sau khi chấm dứt NAFTA hay không là một câu hỏi then chốt. Mặt trái của đô-la Canada sụt giá là hàng hóa ở Canada sẽ đắt hơn. Đối với các công ty, như vậy nghĩa là phải tốn nhiều hơn để nhập khẩu thiết bị, dụng cụ và dịch vụ để vận hành doanh nghiệp. Tất cả những bất định này có thể sẽ khiến các doanh nghiệp ngại tuyển thêm nhân viên mới, và có thể thậm chí khiến một số doanh nghiệp giảm chi phí, có nguy cơ khiến thị trường việc làm đang tăng mạnh của Canada chuyển biến theo chiều ngược lại.

Nếu không có hiệp định thương mại tự do giữa Mỹ và Canada không có nghĩa là hai nước chấm dứt buôn bán với nhau. Mỹ vẫn là đối tác thương mại lớn nhất của Canada. Câu hỏi là mức độ thương mại giữa hai bên (673 tỷ đô-la trong năm 2016) sẽ giảm bao nhiêu.

Trước tình hình bất định, giới kinh tế đang cố tìm những lý do để lạc quan. Jacqueline Palladini, nhà kinh tế cao cấp thuộc tổ chức nghiên cứu độc lập Conference Board of Canada, nói, “Chúng ta không có hiệp định thương mại với Trung Quốc, nhưng họ vẫn là đối tác thương mại lớn nhì của chúng ta.”

Tuy vậy, các rào cản thương mại sẽ bắt đầu được dựng lên nếu NAFTA chết và hiệp định thương mại tự do Canada-Mỹ cũ không được khôi phục. Hàng xuất khẩu từ Canada sang Mỹ có thể bị đánh thuế nhập khẩu tối đa 3.5% theo điều khoản “tối huệ quốc” của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Nếu vậy, gần như chắc chắn Canada sẽ trả đũa bằng thuế nhập khẩu đánh vào hàng Mỹ.

Mọi thứ sẽ đột ngột đắt hơn cho người Canada. Việc lưu thông tự do hàng hóa xuyên các biên giới Bắc Mỹ đã đóng vai trò lớn trong việc giữ giá tiêu dùng ở mức thấp. Sự kết hợp của thuế nhập khẩu cao hơn, đồng đô-la Canada sụt giá và các chính sách bảo hộ của Mỹ và chính sách thương mại trả đũa của Canada sau khi NAFTA sụp đổ tất cả đều sẽ đẩy giá tiêu dùng lên cao.

Dan Ciuriak, cựu phó ban phân tích kinh tế của Bộ Ngoại giao và Ngoại thương Canada, nhận định rằng ngoài ra Canada sẽ nhanh chóng không còn hấp dẫn đối với các công ty toàn cầu nếu không còn quyền tiếp cận thị trường Bắc Mỹ.

Ông Ciuriak không tiên đoán rằng các công ty sẽ rút khỏi Canada, nhưng sẽ bớt khả năng họ sẽ đầu tư và mở rộng hoạt động ở Canada, và các doanh nghiệp quốc tế đang muốn hoạt động ở Bắc Mỹ có thể hoàn toàn bỏ qua Canada. Đầu tư của doanh nghiệp ở Canada, một động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế, gần như không tăng từ mức trước cuộc đại khủng hoảng kinh tế cách đây một thập niên. Sự sụp đổ của NAFTA chỉ càng làm giảm đầu tư.

Giới chuyên gia kinh tế ở các ngân hàng đã phân tích nhiều kịch bản hậu NAFTA. Phần lớn phụ thuộc vào độ dày của những bức tường dựng lên sau đó. Khi các chuyên gia kinh tế Scotiabank phân tích số liệu đầu năm 2017, họ tìm hiểu xem chuyện gì sẽ xảy ra nếu thuế suất 3.5% được áp dụng cho tất cả những hàng hóa trao đổi giữa Canada, Mexico và Mỹ. Câu trả lời: tăng trưởng GDP thực của Canada (số đo sản lượng kinh tế đã khử lạm phát) sẽ giảm khoảng nửa điểm phần trăm.

Tuy nhiên, Trump cũng đã dọa rút Mỹ khỏi WTO. Nếu Trump xóa bỏ NAFTA, lại càng có khả năng ông thực hiện lời dọa rút khỏi WTO. Và điều đó có nghĩa thuế nhập khẩu càng cao hơn. Ví dụ, Scotiabank nghiên cứu một kịch bản trong đó Mỹ đánh thuế 20% với hàng nhập khảu từ Canada. Lúc đó, tỷ lệ tăng trưởng hàng năm trong năm 2018 sẽ giảm từ mức dự báo hiện nay là 2% xuống còn 0.6%, và vào năm 2019, tăng trưởng chỉ còn 0.1%. Scotiabank cũng thừa nhận rằng các mô phỏng của mình không phản ánh tác động tối đa khả dĩ do sự sụp đổ của NAFTA, chẳng hạn như sự khởi đầu của một cuộc chiến thương mại toàn cầu mà sẽ kìm hãm đáng kể tăng trưởng toàn cầu.

© Canada Info.

 

2 comments

Leave a Reply

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.